TRÍCH DẪN TRONG SÁCH

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Giới thiệu sách tháng 01/2025 - Chủ đề Tết cổ truyền

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN THCS ĐIỆN BIÊN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Đại sứ giảm nhựa - Lê Nguyễn Tường Vi - THCS Điện Biên - Thanh Hoá

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7561823844341_8cee9f568e3fa083fcfaab3f5add279c.jpg Z7561823844340_1f409dc95946b471f1b1e6185f42c677.jpg Z7561823836261_1039d8099f2248cd9c488740d94dba2f.jpg Z7561823741232_3d3250a3f7779e18940b5eda2e7ae02a.jpg Z7561823739368_e1fa705040e572d2ee9b532d4b9dcf69.jpg Z7561823727049_05e9700fb0d323cf1f19cd489ed6cb71.jpg Z7561823722224_1a52bf15890339dfcf83ec2bdd929752.jpg Z7561823712458_2abc7e1b4a446b47ef54599ea108f844.jpg Z7561823712458_2abc7e1b4a446b47ef54599ea108f844.jpg Z7561823711636_843ac53c087c0f8b416ff927838d5165.jpg Z7561823690692_a03f78632a859afe6eab174e3209decb.jpg Z7561823687643_5c059015e9b91614f3b1721689372e34.jpg Z7561823679134_fe3ad561599b082c9410f1d73d590e86.jpg Z7561823677656_ded1f9daa2f88cd87d3a51ad5eaa376f.jpg Z7561823659791_a244fd5393000093db5807a2508826a9.jpg Z7561823656384_3e5c71f953a8cc3ccf74d2de0710d497.jpg Z7561823656208_0a92e6653c2097f41a26ceb06f3067bb.jpg Z7561823636348_d73b9555645f54e9ccf6472c5cfe3d4c.jpg Z7561823633241_edcb463ac04162368d2984f1cc7bff10.jpg Z6512340370469_393eb0e6a8942497f9df4063374cd40d.jpg

    SÁCH THAM KHẢO

    SÁCH NÓI

    TÌM HIỂU LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG

    Hải Duyên trường THCS Điện Biên đạt giải ba cuộc thi ĐSVHĐ cấp tỉnh năm 2023

    Trường THCS Điện Biên - Tp. Thanh Hoá

    ÔN THI 10 - CÁC VĂN BẢN HKII

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 10h:34' 20-01-2025
    Dung lượng: 70.6 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    1. MÙA XUÂN NHO NHỎ - THANH HẢI
    Đề: Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải.
    I. Mở bài :
    - Giới thiệu tác giả, tác phẩm
    - Nêu vấn đề nghị luận.
    II. Thân bài
    1. Khái quát chung
    - Hoàn cảnh ra đời
    - Mạch cảm xúc
    2. Phân tích

    Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn, sinh năm 1930, quê ở Thừa Thiên Huế.
    Trong những năm kháng chiến chống Mỹ nhà thơ Thanh Hải làm công tác văn
    hoá văn nghệ ở Đoàn văn công tỉnh và cán bộ Tuyên huấn ở chiến khu. Sau năm
    1975, ông là Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Ông mất ngày 15 tháng
    12 năm 1980 tại Huế. Với 50 mùa xuân cuộc đời, nhà thơ đã để lại 6 tập thơ:
    “Những đồng chí Trung Kiên”; “Huế mùa xuân” (2 tập); “Dấu võng Trường
    Sơn”; “Mưa xuân đất này” và “Thanh Hải thơ tuyển”. Thơ Thanh Hải là tiếng
    nói bình dị, chân thành của người chiến sĩ kiên trung, một lòng theo cách mạng,
    đã có những đóng góp đang quí cho nền thơ chống Mỹ. Ông được tặng giải
    thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu 1965 và được truy tặng Giải thưởng Nhà
    nước về văn học nghệ thuật, đợt 1, năm 2001.
    “Mùa xuân nho nhỏ” là một trong những bài thơ tiêu biểu trong gia tài thơ xuân
    Việt Nam , được nhà thơ Thanh Hải viết trên giường bệnh, trước khi mất chỉ vài
    ngày. Đó là lời tự bạch chân thành với những tâm niệm đầy tính nhân văn về lẽ
    sống và đời thơ.
    Luận điểm 1: Cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên xứ Huế (khổ đầu).
    - Bức tranh mùa xuân: Tác giả đã tái hiện lại khung cảnh mùa xuân của đất trời xứ
    Huế qua vài nét phác họa: một dòng sông xanh, một bông hoa tím biếc, một tiếng
    chim chiền chiện …
    Mọc giữa dòng sông xanh
    Một bông hoa tím biếc
    Ơi con chim chiền chiện
    Hót chi mà vang trời
    Mùa xuân được mở ra với không gian cao rộng (với dòng sông, mặt đất, bầu
    trời bao la), cả màu sắc tươi thắm của mùa xuân (sông xanh, hoa tím biếc), cả âm
    thanh vang vọng, tươi vui của chim chiền chiện hót gọi xuân về (hót vang trời). Hình
    ảnh thơ đẹp, giàu tính tạo hình, bức tranh xuân có tầng bậc, hài hòa giữa màu sắc và
    âm thanh, đậm sắc màu xứ Huế.
    - Cảm xúc của tác giả: tươi vui, hồn nhiên, trong trẻo trước cảnh mùa xuân:
    + Câu thơ “từng giọt long lanh rơi” sự dụng nghệ thuật chuyển đổi cảm giác
    thể hiện niềm say sưa, ngây ngất, nâng niu, trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp đất trời
    vào xuân “từng giọt” ở đây là giọt mưa mùa xuân long lanh trong ánh sáng của trời
    xuân; nếu gắn với 2 câu trước, “từng giọt” có thể hiểu là giọt âm thanh của tiếng chim
    hót. Tiếng chim từ chỗ là âm thanh (cảm nhận bằng thính giác) chuyển thành từng giọt
    (hình, khối, cảm nhận bằng thị giác), từng giọt ấy lại long lanh ánh sáng và màu sắc,
    có thể cảm nhận bằng xúc giác “tôi đưa tay tôi hứng”.
    + Lời gọi “ơi”, lời hỏi “chi” khiến câu thơ trở thành lời trò chuyện trực tiếp với
    thiên nhiên, tác giả đưa vào thơ cách nói dịu ngọt thân thương của xứ Huế, bộc lộ sự
    ngạc nhiên xúc động trước vẻ đẹp của mùa xuân xứ Huế.

    Luận điểm 2: Cảm xúc trước mùa xuân đất nước (khổ 2,3)
    - Thanh Hải chọn hai hình ảnh tiêu biểu người cầm súng và người ra đồng – hai hình
    ảnh tượng trưng cho hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng: chiến đấu và sản xuất, bảo
    vệ và xây dựng đất nước. Cái hay của câu thơ là tác giả đã gắn hình ảnh người cầm
    súng và người ra đồng với màu xanh vô cùng gợi cảm của chồi non lộc biếc:
    Mùa xuân người cầm súng
    Lộc giắt đầy quanh lưng
    Mùa xuân người ra đồng
    Lộc trải dài nương mạ
    Lộc giắt đầy …, lộc trải dài… hình ảnh trùng điệp làm hiện ra cả mùa xuân đất
    trời trong màu xanh bất tận của lộc mới. Mùa xuân theo người lính ra trận, lộc non
    trên vành lá ngụy trang tiếp sức cho họ trên mỗi bước đường hành quân, gìn giữ mùa
    xuân vĩnh hằng cho dân tộc. Mùa xuân theo người nông dân ra đồng trước mắt họ trải
    ra màu xanh đầy sức sống, hay chính họ đang gieo mùa xuân trên khắp mọi miền Tổ
    quốc? Mùa xuân theo người cầm súng, người ra đồng đến mọi miền đất nước. Và
    chính những con người ấy đã đem mùa xuân đến cho đất nước giữa mùa xuân của
    thiên nhiên. Nhà thơ nghe thấy trong màu xanh tươi non của của mùa xuân cái khí thế
    tưng bừng; rộn rã, hối hả, xôn xao “Tất cả như hối hả - Tất cả như xôn xao”.
    - Suy ngẫm của tác giả về đất nước:
    + Đất nước vừa lớn lao vừa gần gũi:
    Đất nước bốn ngàn năm
    Vất vả và gian lao
    Nghệ thuật nhân hóa, đất nước như con người trải qua bao vất vả gian lao của
    thăng trầm lịch sử. Vẻ đẹp đất nước là vẻ đẹp của sức sống bền bỉ, mãnh liệt.
    + Đất nước tỏa sáng trong tương lai:
    Đất nước như vì sao
    Cứ đi lên phía trước
    Nhà thơ so sánh tầm vóc, vị thế của đất nước với nguồn sáng lấp lánh của vì
    sao để bày tỏ niềm tự hào, niền tin tưởng về tương lai tươi sáng, về sức sống trường
    tồn vĩnh cửu của dân tộc, không kẻ thù nào có thể ngăn nổi bước tiến của dân tộc ta.
    Luận điểm 3: Tâm niệm của nhà thơ (khổ 5,6)
    - Từ xúc cảm về mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, Thanh Hải tha thiết mong ước
    được hóa thân để sống biến thật nhiều cho cuộc đời:
    Ta làm con chim hót
    Ta làm một nhành hoa
    Ta nhập vào hòa ca
    Một nốt trầm xao xuyến.
    - Điệp cấu trúc: Ta làm…, ta nhập vào … diễn tả một cách tha thiết khát vọng được
    hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, được cống hiến phần tốt đẹp – dù nhỏ bé của
    mình cho cuộc đời chung cho đất nước. Thay đổi cách xưng hô, tôi – ta, cảm xúc cá
    nhân trước mùa xuân thiên nhiên, đất nước đã chuyển hóa thành cái ta, vừa là cá nhân
    vừa đại diện cho số đông, ước nguyện của tác giả cũng là ước nguyện chung của mọi
    người.
    - Điều tâm niệm ấy được tác giả thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh
    thơ đẹp một cách tự nhiên, giản dị.
    - Ước là “con Chim” để dâng cho đời tiếng hót làm vui, làm “nhành hoa” dâng cho
    đời hương sắc làm đẹp. Ở khổ đầu, vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên đã được miêu tả
    bằng hình ảnh một bông hoa tím biếc”, bằng âm thanh của tiếng chim chiền chiện
    “hót chỉ mà vang trời”. Ở khổ thơ này, tác giả lại mượn những hình ảnh ấy – những
    hình ảnh đẹp nhất, khiêm nhường nhất của thiên nhiên - để hóa thân, để dâng hiến,
    cách cấu từ lặp lại tạo ra sự đối ứng chặt chẽ. Những hình ảnh trọn lọc ấy đã mang
    một ý nghĩa mới: mong ước được sống có ích cống hiến cho đời vô tư, tự nguyện,

    không đòi hỏi đáp đền như một lẽ tự nhiên, con chim mang đến tiếng hót, bông hoa
    tỏa hương sắc cho đời.
    + Tác giả còn tha thiết được hòa mình vào cuộc sống muôn người, làm “nốt
    trầm xao xuyến” trong bản hòa ca bất tận của cuộc đời, cống hiến lặng thầm, không
    phô trương, cống hiến phần tinh túy nhất cho quê hương, đất nước.
    + Nhà thơ ước được làm “Một mùa xuân nho nhỏ” để “Lặng lẽ dâng cho đời”
    tác giả ví ngầm cuộc đời mình và cuộc đời mỗi người là “Một mùa xuân nho nhỏ”.
    Mỗi người phải mang đến cho cuộc đời chung một phần nhỏ bé của mình và phải
    không ngừng cống hiến: “Đó là tuổi hai mươi – Dù là khi tóc bạc”. “Mùa xuân nho
    nhỏ” là một sáng tạo độc đáo của Thanh Hải. Nhà thơ nguyện làm một mùa xuân,
    nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường
    cống hiến bất chấp tuổi tác, thời gian, nghịch cảnh.
    - Lẽ sống của Thanh Hải là lẽ sống của một lớp người trọn đời đi theo cách mạng.
    Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết sống, biết chăm lo cho cuộc đời
    chung và có thể đóng góp những gì tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất
    nước.
    3. Đánh giá chung
    - Thể thơ 5 chữ, nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca, đặc biệt là dân ca
    miền Trung.
    - Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị (Bông hoa, tiếng chim hót, vì sao…) với
    các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát.
    - Cấu tứ chặt chẽ lô – gic: sự hài hòa giữa mùa xuân lớn và mùa xuân nho nhỏ, từ mùa
    xuân của đất trời đến mùa xuân của quê hương đất nước.
    - Giọng điệu biến đổi phù hợp với mạch cảm xúc của tác giả: vui, say mê, trầm lắng,
    tha thiết.
    III. Kết luận
    - Sức hấp dẫn của bài thơ Mùa xuân nho nhỉ là ở thể thơ năm tiếng, nhạc điệu trong
    sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca, nhiều hình ảnh đẹp, trong sáng, giàu tình biểu
    tượng, ẩn dụ.
    - Bài thơ còn để lại ấn tượng sâu sắc trước những xúc cảm của Thanh Hải về mùa
    xuân thiên nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một mùa xuân nho nhỏ để
    cống hiến cho cuộc đời. Từ đó mở ra những suy nghĩ về ý nghĩa, giá trị cuộc sống của
    mỗi cá nhân là sống có ích, biết cống hiến những gì tốt đẹp nhất cho cuộc đời chung.
    2. VIẾNG LĂNG BÁC – VIỄN PHƯƠNG
    Đề: Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương
    I. Mở bài:
    - Giới thiệu tác giả, tác phẩm
    - Nêu vấn đề nghị luận
    II. Thân bài:
    1. Khái quát chung
    - Hoàn cảnh sáng tác
    - Mạch cảm xúc
    2. Phân tích
    Luận điểm 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đặt chân đến lăng Bác (khổ 1).
    - Câu thơ mở đầu “Con ở Miền Nam ra thăm lăng Bác” chỉ gọn như một thông báo,
    nhưng lại gợi ra tâm trạng xúc động của một người con từ chiến trường miền Nam sau
    bao năm mong mỏi bây giờ mới được ra viếng Bác.
    + Viễn Phương thưa với Bác bằng cả tấm lòng thiêng liêng thành kính, khao
    khát mong chờ gặp Bác.

    + Cách nói giảm : từ “thăm” thay cho từ “viếng” giảm bớt nỗi đau mất mát.
    Trong trái tim nhà thơ và tất cả dân tộc Việt Nam, Bác còn sống mãi, con chỉ ra thăm
    chưa không viếng Bác.
    + Cách xưng hô “con” và “Bác” vừa gần gũi, thân thương, vừa trân trọng thành
    kính.
    - Ba câu tiếp: Từ làn sương mở của bầu trời Hà Nội, nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật nơi
    Người yên nghỉ bẳng tất cả niềm tôn kính thiêng liêng và nỗi xúc động dâng trào.
    Hình ảnh đầu tiên và ấn tượng nổi bật trong cái nhìn đầu tiên về cảnh quan lăng Bác là
    hàng tre. Nhà thơ cảm nhận ở đó linh hồn quen thuộc của quê hương Việt Nam.
    Ôi ! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
    Bão táp mưa xa đứng thẳng hàng
    - Bác yên nghỉ giữa lòng thủ đô Hà Nội trang nghiêm là thế, nhìn thấy hàng tre xanh
    đang đứng đó, nhà thơ nhận ra lăng Bác bỗng trở nên gần gũi, thân thuộc như mọi
    xóm làng Việt Nam: Về với Bác, Viễn Phương tưởng như được trở về với ngôi nhà
    yêu dấu, về với nguồn cội của mình. Từ hàng tre cụ thể bên lăng Bác, nhà thơ liên
    tưởng đến cây tre Việt Nam, đến bản lĩnh, sức sống bền bỉ kiên cường của con người
    Việt Nam, dân tộc Việt Nam.
    Luận điểm 2: Cảm xúc của nhà thơ khi cùng đoàn người xếp hàng vào lăng Bác
    (khổ 2)
    - Hai câu đầu: Nhà thơ sử dụng thành công hình ảnh sóng đôi “mặt trời”
    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
    Thấy một mặt trời trong lăng đất đỏ
    Hình ảnh mặt trời trong câu trên là thực, mặt trời của thiên nhiên vũ trụ được
    nhân hóa “đi qua trên lăng”. Mặt trời trên câu dưới là hình ảnh ẩn dụ, Bác cũng giống
    như mặt trời đem đến ánh sáng và hơi ấm cách mạng sưởi ấm lòng dân tộc ta, xua đi
    cuộc sống lầm than nô lệ. Lấy mặt trời để ví Bác, nhà thơ đã thể hiện niềm tôn kính
    của mình và toàn thể nhân dân Việt Nam dành cho Bác: khẳng định và ngợi ca công
    lao trời bể và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Bác. Người vĩ đại không chỉ nhân loại
    thừa nhận mà cả thiên nhiên, tạo hóa cũng phải tôn kính, ngưỡng mộ.
    - Hai câu sau: “Dòng người đi trong thương nhớ” là hình ảnh thực. Còn “kết tràng hoa
    dâng bảy mươi chín mùa xuân” lại là ẩn dụ. Nhìn từng đoàn người lặng lẽ, trang
    nghiêm xếp hàng vào lăng viếng Bác nối dài không dứt, nhà thơ liên tưởng đến hình
    ảnh ẩn dụ đẹp, giàu chất thơ: “tràng hoa” thơm dâng Bác. Tình cảm thương nhớ, lòng
    biết ơn của nhân dân ta dành cho Bác chẳng bao giờ nguôi, cũng tự nhiên, vĩnh hằng
    như quy luật đất trời.
    Luận điểm 3: Cảm xúc của nhà thơ khi bước vào lăng đứng trước anh linh Bác
    (khổ 3)
    - Viễn Phương đã cố kìm nén cảm xúc để miêu tả “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên”.
    Không gian và thời gian như ngưng đọng trước một hình ảnh có tính vĩnh hằng. Nhà
    thơ cảm nhận như Người chỉ đang trong giấc ngủ yên bình sau bảy mươi năm thức
    trọn vì dân tộc.
    - Hình ảnh vầng trăng là một liên tưởng độc đáo. Nhìn ánh sáng tỏa ra nơi Bác yên
    nằm , nhà thơ lại liên tưởng đến vầng trăng sáng dịu hiền. Từ không gian trong lăng
    với thứ ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo, hình ảnh vầng trăng còn gợi tâm hồn thanh cao,
    tình yêu thiên nhiên say đắm và cả những vần thơ ngập tràn ánh trăng cua Bác.
    - Tâm trạng xúc động của nhà thơ được biểu hiện bằng một hình ảnh ẩn dụ sâu xa:
    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
    Mà sao nghe nhói ở trong tim
    Bác vẫn còn mãi với non sống, đất nước như trời xanh vĩnh hằng. Người đã
    hóa thành thiên nhiên, đất nước, dân tộc. Dù biết thế, con tim Viễn Phương lại có
    tiếng nói riêng. Ông “nghe nhói ở trong tim” vì sự thật Bác đã đi xa, vì nỗi đau thiếu

    vắng Bác không gì bù đắp nổi. Từ nhói nằm giữa câu thơ diễn tả nỗi đau quặn thắt con
    tim như thể con người vừa mất đi người cha yêu kính.
    Luân điểm 4: Cảm xúc của nhà thơ trước lúc ra về (khổ 4).
    - Câu thơ đầu: “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”, câu thơ ở cách diễn đạt một
    mạc, chân thành kiểu Nam Bộ. Nghĩ đến giây phút phải chia tay Bác để trở về miền
    Nam, Nhà thơ nhớ thương Bác đến trào nước mắt”.
    - Ba câu cuối: nhà thơ bày tỏ tình cảm lưu luyến và niềm mong ước.
    Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
    Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
    + Điệp ngữ “muốn làm” gợi lên khát khao chân thành, cháy bỏng của tác giả,.
    Ông muốn ở mãi bên Bác để phần nào bù đắp công lao, đức hi sinh trời bể mà Người
    đã dành cho dân tộc.
    + Hình ảnh con chim hót, đóa hoa tỏa hương, cây tre trung hiếu gợi ra niềm
    mong ước của tác giả. Vì lưu luyến, bịn rịn, thương nhớ Bác khôn nguôi, Viễn
    Phương đã mong ước tha thiết được hóa thân vào cảnh vật bên lăng Người.
    Đẹp nhất, cao cả nhất là ước muốn được làm cây tre trung hiếu để được đứng
    trong hàng tre xanh xanh Việt Nam để ngày ngày đứng canh giấc ngủ thiên thu của
    Bác. Ẩn dụ cây tre trung hiếu biểu tượng cho lòng thủy chung với con đường và sự
    nghiệp cách mạng mà Bác đã chọn. Hình ảnh hàng tre ở khổ đầu được lặp lại ở cuối
    bài, tạo nên kết cấu đầu cuối tương ứng, tô đậm hình ảnh gây ấn tượng sâu sắc và
    dòng cảm xúc được trọn vẹn.
    3. Đánh giá chung
    - Giọng thơ trầm lắng, trang nghiêm, thành kính phù hợp với không khí của cuộc
    viếng lăng.
    - Giọng thơ trầm lắng, trang nghiêm, thành kính phù hợp với không khí của cuộc
    viếng Lăng.
    - Nhịp thơ chậm rãi phù hợp với nhịp bước chân của đoàn người vào viếng Bác, diễn
    tả sự trang nghiêm, thành kính và những cảm xúc sâu lắng.
    - Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo, kết hợp hình ảnh thực và ẩn dụ, biểu tượng ( mặt
    trời, vầng trăng, trời xanh …) vừa quen thuộc gần gũi, vừa có ý nghĩa khái quát và giá
    trị biểu cảm cao.
    III. Kết bài
    - Bài thơ viếng lăng Bác hấp dẫn người đọc bởi những hình ảnh thơ đẹp giữa liên
    tưởng mộng mơ, bởi nhịp điệu tha thiết, giọng thơ thành kính, trang nghiêm phù hợp
    với không khí của việc viếng lăng. Bài thơ đã trạm đến trái tim mỗi người con Việt
    Nam khi nhắc đến Bác Hồ muôn vàn kính yêu.
    - Bài thơ đã thể hiện niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết thành kính, vừa tự
    hào, vừa đau xót của tác giả khi từ Miền Nam mới được giải phóng ra viếng lăng Bác.
    Vì vậy viếng lăng Bác không những là nén tâm hương dâng lên Bác mà còn là tiếng
    khóc nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác, là lòng thương nhớ khôn nguôi của Viễn
    Phương nói riêng và của đồng bào miền Nam, dân tộc Việt Nam nói chung dành cho
    Bác kính yêu.
    3. SANG THU – HỮU THỈNH
    Đề: Phân tích bài thơ Sang thu của nhà thơ Hữu Thỉnh
    I. Mở bài:
    - Giới thiệu tác giả, tác phẩm
    - Nêu nội dung của bài thơ (Bài thơ viết về những chuyển biến nhẹ nhàng, tinh tế của
    thiên nhiên, đất trời trong phút giao mùa từ hạ sang thu. Qua đó, nhà thơ gửi gắm quy
    luật cuộc sống nhân sinh, của đời người khi bước sang mùa thu của cuộc đời)
    II. Thân bài
    1. Khái quát chung

    - Hoàn cảnh ra đời
    - Mạch cảm xúc
    2. Phân tích
    Luận điểm 1: “Sang thu” ở chốn làng quê (khổ 1)
    - Mùa thu đến bắt đầu từ hương vị mộc mạc ở một chốn làng quê. “Hương ổi” một thứ
    hương thơm ngào ngạt, nồng nặc đang chủ động phả vào trong gió se, chỉ cần một từ
    “phả” gợi lên mùi hương ổi lan tỏa khắp không gian. Gió se, gió heo may se lạnh báo
    hiệu thu sang. Trong làn gió heo may se lạnh của mùa thu vị hương ổi được cô đặc,
    sánh lại, ngọt ngào và quyến rũ hơn. Cái ấm chủ động giao thoa với cái lạnh:
    Bỗng nhận ra hương ổi
    Phả vào trong gió se
    - Từ khu vườn nhỏ nhà mình, nhà thơ hướng mắt ra trước ngõ và thấy làn sương đang
    mong manh ngập ngừng, đang “chùng chình qua ngõ”. Nghệ thuật nhân hóa và từ láy
    “chùng chình” gợi lên làn sương thu nhẹ, mong manh, giăng mắc nửa muốn đi nửa
    còn dùng dằng ở lại nơi đầu thôn ngõ xóm. Các tín hiệu đặc trưng của mùa thu đã hiện
    diện. Vậy mà nhà thơ còn chưa chắc chắn, còn nghỉ hoặc: “Hình như thu đã về”. Phải
    tinh tế, nhạy cảm, nhà thơ mới có thể nhận ra bước “sang thu” nhẹ nhàng, vô hình, từ
    hương thơm của làng quê, từ những gì không cụ thể làm xốn xang lòng người.
    Luận điểm 2: Sang thu khắp đất trời (khổ 2)
    Từ không gian nhỏ hẹp với hương ổi trong vườn, gió qua nhà, sương trước ngõ, Hữu
    Thỉnh đã phóng tầm mắt ra xa hơn và nhận ra mùa thu đã về thật sự khắp đất trời.
    - Hai câu thơ đầu: nghệ thuật đối lập được sử dụng để miêu tả những chuyển biến tinh
    tế của mùa thu trong một không gian trái chiều và những trạng thái, hoạt động trái
    chiều nhau của vạn vật:
    Sông được lúc dềnh dàng
    Chim bắt đầu vội vã
    Thu sang, dòng sông cứ thế lững lờ trôi, rất nhẹ nhàng, rất êm xuôi, vừa chảy vừa như
    đang ngẫm nghĩ suy tư như đang đợi chờ ai đó. Đối lập với dòng sông, đàn chim tinh
    tế nhận ra hơi thu lạnh luồn trong gió se, chúng tôi thể “ dềnh dàng” mà vội vàng, gấp
    gáp hơn trong những nhịp sải cánh khi mỗi chiều bay về tổ. Hai tốc độ trái chiều nhau,
    sự “ dềnh dàng” của dòng sông , sự “ vội vã” của những cánh chim đều diễn tả chính
    xác mùa thu mới ở độ bắt đầu.
    - Hai câu sau: được xem là hai câu tuyệt bút tả cảnh ngự tình. Thu sang rất dịu, rất
    nhẹ, rất êm được nhà thơ cảm nhận từ bước chuyển mình của “ đám mây mùa hạ” còn
    vương lại trên bầu trời.
    Có đám mây mùa hạ
    Vắt nửa mình sang thu
    + Từ “vắt” gợi cho người đọc những liên tưởng kì thú về đám mây. Đám mây
    như một tấm lụa mềm mại, duyên dáng đang “vắt” lên bầu trời hai nửa hạ - thu.
    + Đám mây được nhân hóa mới chỉ đang “vắt nửa mình” để sang thu. Nó như
    cũng mang nặng tâm tư của con người trong khoảnh khắc giao mùa, bâng khuâng xao
    xuyến trước những chuyển biến kì diệu của thiên nhiên, nửa còn lưu truyền, bịn rịn
    với mùa hạ nồng nàn, nửa đang háo hức, mong ước mùa thu êm dịu.
    Luận điểm 3: “Sang thu” trong tâm hồn mỗi người (khổ 3)
    - Thu đến với những dấu hiệu rõ ràng, cụ thể hơn bằng những đổi thay của thời tiết,
    bằng những dấu hiệu của hạ đi. Sang thu, mọi dấu hiệu thời tiết mùa hạ đều trở nên
    thưa thớt, ít ỏi. Dù “vẫn còn bao nhiêu nắng” nhưng những cơn mưa “ đá vơi dần”,
    sấm cũng không còn “bất ngờ” như trong mùa hạ nữa “hàng cây đứng tuổi” không còn
    sợ sấm nữa bởi nó đã từng chứng kiến rất nhiều lần chuyển mưa như thế :
    Vẫn còn bao nhiêu nắng
    Đã vơi dần cơn mưa
    Sấm cũng bớt bất ngờ

    Trên hàng cây đứng tuổi
    - Hình ảnh “Hàng cây đứng tuổi” khép lại bài thơ vừa làm trọn vẹn bức tranh thiên
    nhiên vạn vật “ sang thu” vừa là cầu nối mở ra những tâm sự nhà thơ muốn gởi gắm
    khiến bài thơ không chỉ là hình ảnh đất trời thiên nhiên nên thơ mà còn có hình ảnh
    con người trong khoảnh khắc giao mùa:
    + “Sấm” là tượng trưng cho những biến động bất thường, những khó khăn mỗi
    người có thể gặp phải trên đường đời.
    + Hình ảnh: “hàng cây đứng tuổi” Tượng trưng cho những lớp người đã từng
    trải, có kinh nghiệm dày dặn, đã từng trải qua bao sóng gió gian nan của cuộc đời. Khi
    đã “sang thu” con người luôn vững vàng hơn, họ đón nhận những biến động bất ngời
    hằng sự bình thản tự nhiên, họ giải quyết mọi việc được bình tĩnh theo cách đúng đắn
    nhất.
    Thiên nhiên đã trở thành cái cớ để nhà thơ gửi gắm triết lí nhân sinh vào đó,
    khiến Sang thu trở thành một ẩn dụ hàm súc, đa nghĩa.
    3. Đánh giá chung
    - Thể thơ năm chữ, nhịp thơ chậm, âm điệu nhẹ nhàng, phù hợp với dòng cảm xúc của
    nhà thơ.
    - Từ ngữ có giá trị gợi tả, gợi cảm sâu sắc
    - Hình ảnh thơ chọn lọc, mang những nét đặc trưng về phút giao mùa từ hạ sang thu
    để người đọc có được ấn tượng: sang thu không chỉ của thiên nhiên mà hồn người
    cũng có lúc sang thu.
    III. Kết bài
    - Bằng sự cảm nhận tinh tế, bằng ngôn ngữ thơ ca giản dị, hàm súc: hình ảnh thiên
    nhiên thân quen, giản dị mà tươi tắn, sống động và một giọng thơ vừa có thoáng ngỡ
    ngàng, vừa có chút vui sướng, lại vừa trầm lắng, sâu sắc … Hữu Thỉnh đã dựng lại
    một bức tranh thu nồng đượm hơi ấm cuộc đời, hơi ấm quê nhà, ấm áp tình người.
    - Với Sang thu, Hữu Thỉnh đã góp thêm một nét thu độc đáo vào dòng thơ thu của dân
    tộc.
    4. NÓI VỚI CON – Y PHƯƠNG
    Đề: Phân tích bài thơ Nói với con của nhà thơ Y Phương

    I. Mở bài:
    - Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
    - Nêu nội dung của bài thơ (Mượn lời nói với con Y Phương gợi về cuội nguồn sinh
    dưỡng của mỗi con người; bộc lộ niềm tự hào về truyền thống cần cù, sức sống bền bỉ,
    mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình)
    II. Thân bài
    1. Khái quát chung
    - Hoàn cảnh ra đời
    2. Phân tích
    Luận điểm 1: Nói với con về cội nguồn sinh dưỡng: Gia đình và quê hương (11
    dòng đầu)
    - Bốn câu thơ đầu: Gợi ra bức tranh gia đình hạnh phúc, cha muốn nói với con, con là
    hạnh phúc của mẹ cha, con được sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương, trong sự
    nâng đón và mong chờ của cha mẹ. Ở bức tranh ấy có cha có mẹ, có con và con là
    trung tâm của gia đình, con đang ở tuổi chập chững bước di, bí bô tập nói. Mỗi bước
    đi của con đều được cha nâng, mẹ đỡ, con được bước đi trong cả đôi bờ yêu thương.
    Chân phải bước tới cha
    Chân trái bước tới mẹ
    Một bước chạm tiếng nói
    Hai bước tới tiếng cường.

    - Năm câu thơ tiếp: con trường thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ
    mộng, nghĩa tình của quê hương:
    + Cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của : “người đồng mình” được nhà thơ
    gọi lên qua các hình ảnh đẹp:
    Đan lờ cài nan hoa
    Vách nhà ken câu hát
    Các động từ cài, ken vừa miêu tả công việc cụ thể vừa gợi sự tài hoa, khéo léo,
    lạc quan của người đồng mình. Cuộc sống của họ luôn vui vẻ, đầy ắp những tiếng hát,
    lời ca.
    + Rừng núi quê hương cũng rất thơ mộng nghĩa tình, thiên nhiên ấy đã che chở,
    nuôi dưỡng con người cr về tâm hồn, lối sống:
    Rừng cho hoa
    Con đường cho những tấm lòng
    Con sinh ra trong một gia đình hạnh phúc, con trưởng thành trên quê hương
    đầy ắp nghĩa tình. Gia đình và quê hương là hai chiếc nôi sinh con, nuôi con khôn lớn,
    bồi đắp cho con cả tâm hồn và lối sống. Nhắc lại những câu thơ về cội nguồn cao đẹp
    của con, cha đã nhắc lại ngày cưới của cha mẹ để một lần nữa cho muốn con ghi sâu:
    con có một gia đình hạnh phúc, một quê hương sâu nặng nghĩa tình, con đường bao
    giờ quên những cội nguồn thiêng liêng, đẹp đẽ ấy.
    Luận điểm 2: Nói với con về những phẩm chất của người đồng mình và sức sống
    bền bỉ, mãnh liệt của quê hương (13 dòng tiếp theo)
    - Cách gọi “người đồng mình”, người trong bản, buôn, thung lũng, dân tộc mình. Các
    nói mang ngôn ngữ địa phương, mộc mạc mang đặc trưng của người miền núi đầy gắn
    bó, đoàn kết và trân trọng. Cha gọi những người cùng sinh sống trên một vùng quê
    bằng tiếng gọi trìu mến nghệ thuật gần gũi, thân thương. Con lớn lên trong cái nôi
    nghĩa tình của những con người mộc mạc, thủy trung, tràn đầy niềm tin và lòng lạc
    quan.
    - Cha kể cho con nghe cuộc sống và vẻ đẹp của người “người đồng mình” vẫn bằng
    giọng điệu tâm tính và ngôn ngữ mang đậm tư duy dân tộc giản dị mà đầy chất thơ.
    + “Người đồng mình” có cuộc sống gian nan vất vả chất chồng đo bằng chiều
    cao của những ngọn núi nhưng bản lĩnh sống vô cùng cao đẹp. Họ biết lấy khó khăn,
    biết nhìn về đằng xa để tôi luyện ý chí, “Người đồng mình: luôn bền gan vưng chí
    vươn lên trong mọi hoàn cảnh:
    Cao đo nỗi buồn
    Xa nuôi chí lớn
    Tác giả đã lấy không gian cao và xa để cụ thể hóa ý chí bền bỉ, kiên định vượt
    khó của con người quê hương. Hai câu thơ đã đúc kết bản lĩnh và phương châm sống
    cao đẹp của “Người đồng mình” .
    + “Người đồng mình” một lòng một dạ gắn bó, thủy chung với quê hương, yêu
    quê hương tha thiết:
    Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
    Sống trong thung không chê thung nghèo đói
    Điệp cấu trúc: “Sống … không chê…” cách nói phủ định để khẳng định chắc
    nịch tình yêu, sự gắn bó thủy chung của con người nơi chôn rau cắt rốn của mình dù
    có phải “Sống trên đá gập ghềnh”, “sống trong thung nghèo đói”.
    + “Người đồng mình” chân chất, giản dị “thô sơ da thịt” nhưng tầm vóc tâm
    hồn trí tuệ và nhân cách sống cao đẹp: Người đồng mình thô sơ da thịt – Chẳng mấy
    ai nhỏ bé đâu con”. Nghệ thuật ẩn dụ kết hợp nghệ thuật đối làm nổi bật vẻ đẹp mộc
    mạc, giản dị nhưng tầm vóc lớn lao của con người quê hương.
    + “Tự đục đá”: lao động thô sơ, cải tạo đất đai để sinh cơ lập nghiệp, xây dựng
    quê hương:
    Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

    Còn quê hương thì làm phong tục
    Những con người ấy bằng sự lao động cần cù, nhẫn nại đã làm nên quê hương
    với truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp. Họ đã kê quê hương thêm cao. Những
    câu thơ là lời ngợi ca, khắc phục, tự hào chính đáng của cha về ý thức tự lực tự cường
    tinh thần tự tôn dân tộc đáng trân trọng của “người đồng mình”
    Nhiều lời gọi mang ngữ điệu cảm thán, kết hợp các điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu
    trúc cú pháp tạo giọng điệu thiết tha, trìu mến, yêu thương:
    - Người đồng mình yêu lắm con ơi
    - Người đồng mình thương lắm con ơi
    - Sống trên đá, không chê …
    - Sống trong thung, không chê…
    Tóm lại, từng câu, từng chữ, từng lời cha nói đều chứa chan niềm tự hảo chính
    đáng của cha về quê hương dân tộc. Nói với con về những vẻ đẹp đáng tự hào, đáng “
    thương” của người đồng minh”, cha không chỉ mong con hiểu, con biết tự hào mình
    đằng sau những lời nói ấy là biết bao nhiêu mong ước thiết tha, cháy bỏng cha dành
    gửi nơi con. Cha mong con sống như “người đồng mình” đã sống.
    Luận điểm 3: Mong muốn của người cha về con (4 dòng cuối)
    - Sống ân tình thủy chung với quê hương: cha nhắc lại hình ảnh “thô sơ da thịt” để con
    nhớ đặc điểm của “người đồng mình” là mộc mạc, chân chất, con cũng là “người đồng
    mình”, con là một phần máu thịt của quê hương, phải biết gắn bó thủy chung với quê
    hương.
    - Biết tự hào về truyền thống, vượt qua thử thách bằng ý chí, niềm tin vững bước trên
    đường đời.
    Con ơi tuy thô sơ da thịt
    Lên đường
    Không bao giờ nhỏ bé được
    Nghe con.
    + Khi con “lên đường”, là khi khôn lớn, trưởng thành, bước vào cuộc sống, cha
    tin con “không bao giờ nhỏ bé được”, con sẽ vượt qua thử thách, chông gai cuộc đời,
    bằng ý chím, niềm tin. Trong bất kì hoàn cảnh nào, con hãy sống như “người đồng
    mình” đã sống. Trước thiên hạ, phải tự tin, vững bước trên đường đời, tự tin khẳng
    định mình, kế tục xứng đáng những truyền thống cao đẹp của gia đình, quê hương để
    làm rạng danh cho quê hương, xứ sở.
    + Lời gọi “Con ơi” đặt trước những điều dặn dò và lời nhắn nhủ “Nghe con”
    sau lời dặn khiến lời cha không khô khan cứng nhắc mà thấm thía ân tình, dễ dàng
    thấm sâu vào hồn con. Lời cha là lời truyền giao thế hệ về lẽ sống ở đời của thế hệ
    trước với thế hệ sau. Cha yêu con, yêu quê hương tha thiết, tình cha con chan hòa
    trong tình yêu quê hương, đất nước.
    3. Đánh giá chung
    - Giọng điệu thiết tha, trìu mến (thể hiện rõ nhất ở các lời gọi mang ngữ điệu cảm
    thán, lời tâm tình, dặn ò…)
    - Thể thơ tự do, mạch cảm xúc tự nhiên. Xây dựng các hình ảnh cụ thể mà có tính khái
    quát, mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ. Các biện pháp tu từ so sánh, điệp ngũ kết hợp
    với những câu thơ ngắn dài khác nhau góp phần diễn tả cuộc sống, cách suy nghĩ,
    cách thể hiện tình cảm của người miền núi.
    - Bố cục chặt chẽ, sử dụng nhiều thành ngữ gần gũi, giản dị như lời nói thường ngày
    của người miền núi.
    III. Kết luận:
    - Bài thơ được sáng tác theo thể thơ tự do, giọng điệu thiết tha, trìu mến, hình ảnh cụ
    thể mà có tính khái quát, mộc mạc mà vẫn gợi cảm, giàu chất thơ, cách dẫn dắt tự
    nhiên : từ tình cảm gia đình mở rộng tình yêu quê hương, từng những kỉ niệm gần gũi
    thiêng liêng mà nâng lên thành lẽ sống.

    - Qua lời nói với con, nhà thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm áp, ca ngợi truyền thống
    cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình. Từ đó gợi nhắc về tình
    cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương đất nước.
    5. NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI – LÊ MINH KHUÊ
    Đề: Ấn tượng sâu sắc của em về vẻ đẹp tâm hồn nhân vật Phương Định trong
    đoạn trích Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê.
    I. Mở bài
    - Giới thiệu tác giả, tác phẩm
    - Giới thiệu nhân vật Phương Định (Truyện kể về Phương Định, một cô gái dũng cảm
    trong chiến đấu, hồn nhiên trẻ trung yêu đời, có tình đồng chí đồng đội gắn bó)
    II. Thân bài
    1. Khái quát chung
    - Hoàn cảnh ra đời
    - Giải thích: Vẻ đẹp tâm hồn là vẻ đẹp toát ra từ một con người, được thể hiện trên
    nhiều phương diện ( tư tưởng, tình cảm, cách nghĩ, cách sống …)
    2. Phân tích
    a) Hoàn cảnh sống và chiến đấu của Phương Định
    - Cũng như các cô gái thanh niên xung phong khác, Phương Định sống và chiến đấu
    trên một cao điểm giữa một vùng trọng điểm, nơi tập trung nhiều bom đạn nhất, sự
    nguy hiểm và ác liệt.
    - Công việc: cùng đơn vị nữ thanh niên xung phong hằng ngày quan sát địch ném
    bom, đo khối lượng đất đá cần san lấp do bom địch gây ra, đánh dấu những vị trí bom
    chưa nổ và phá bom. Mỗi ngày, có thể phải phá bom từ 3 đến 5 lần.
    -> Như vậy, hằng ngày cuộc sống của Phương Định là phải đối diện với bom đạn và
    có thể hi sinh bất cứ lúc nào. Thế nhưng từ hoàn cảnh sống khắc nghiệt ấy, Phương
    Điịnh vẫn thể hiện được những nét đẹp tâm hồn đáng quý.
    b) Vẻ đẹp tâm hồn Phương Định.
    * Phương Định là cô gái Hà Thành trẻ trung, xinh đẹp, tâm hồn trong sáng:
    - Phương Định là cô gái có nét đẹp duyên dáng, yêu kiểu: Một cái cổ cao kiêu hãnh
    như đài hoa loa kèn; hai bím tóc dài, mềm mại; đôi mắt dài dài, màu nâu, hay nheo lại
    như chói nắng, cái nhìn xa xăm …. Vẻ đẹp của Phương Định đã hấp dẫn bao tràng
    trai, chính cô thừa nhận “Không hiểu sao các anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm
    tôi…”.
    - Cách cư xử: ý nhị, kín đáo, kiêu kì của con gái Hà Thành. Phương Định nhạy cảm,
    biết mình được nhiều anh lính để ý nhưng cô chưa dành tình cảm cho ai, cô không săn
    sóc vồn vã như những cô gái khác.
    - Vào chiến trường, sống ở nơi sự sống hủy diệt nhưng lúc nào Phương Định cũng
    giữ nguyên những nét đẹp trong sáng của những cô gái mới lớn:
    + Thích làm duyên, làm điệu ngay giữa cuộc sống chiến trước khốc liệt: thích
    ngắm mắt mình trong gương, thích ngồi bó gối mơ màng …
    + Thích hát, hay hát, tự bịa cả ra lời hát; hát trong mọi khoảnh khắc như chưa
    bao giờ nghe thấy bom rơi, đạn nổ. Tiếng hát của cô át tiếng bom, át cả đau thương,
    gian khổ hiểm nguy. Đó là biểu hiện của tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm tin yêu
    cuộc sống.
    + Hồn nhiên, mơ mộng: đêm đêm, cô nhìn lên những ngôi sao trên bầu trời, mở
    về một ngày mai hòa bình, thống nhất. Khi một trận đánh khốc liệt vừa đi qua, chỉ
    một cơn mưa đá bất ngờ ập ...
     
    Gửi ý kiến

    “Một cuốn sách cũng có thể là một vì sao sáng, một ngọn lửa sinh động làm sáng bừng không gian tối, dẫn lối ta vào vũ trụ đang rộng mở.” – Madeleine L’Engle

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS ĐIỆN BIÊN !